2 năm đầu tiên của trẻ có sự tăng trưởng và phát triển nhanh về mặt thể chất và xã hội. Có rất nhiều thay đổi ảnh hưởng đến việc ăn uống cũng như sự hấp thu dinh dưỡng của trẻ. Trong giai đoạn này, việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ tương tác với môi trường xung quanh được tốt hơn. Một đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt và khỏe mạnh sẽ có sự năng động trong đáp ứng và học hỏi qua những kích thích từ môi trường xung quanh, tương tác với cha mẹ và người chăm sóc, để tạo nên mối liên hệ gắn bó mật thiết.
Tuổi thai, cân nặng của mẹ trước khi có thai, sự tăng cân của mẹ trong thai kỳ quyết định trong lượng sau sinh của trẻ. Sau sinh, sự tăng trưởng của trẻ chịu ảnh hưởng bởi sự nuôi dưỡng và yếu tố di truyền. Hầu hết các trẻ sinh ra được xác định là tăng trưởng nhanh về mặt di truyền sẽ đạt kênh tăng trưởng của chúng (một đường cong liên hệ giữa cân nặng và chiều dài hay chiều cao trong giai đoạn phát triển) vào khoảng 3 đến 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, một số trẻ sinh ra ở 10% bách phân vị hoặc thấp hơn về chiều dài có thể không đạt kênh tăng trưởng tương ứng của chúng cho tới lúc 1 năm tuổi, đây được gọi là tăng trưởng bắt kịp. Phần lớn trẻ sinh ra được xác định là chậm tăng trưởng trong nhiều tháng lúc còn bào thai thường không đạt được kênh tăng trưởng của chúng cho tới lúc 13 tháng tuổi. Hiện tượng này trong năm đầu gọi là tăng trưởng chậm.
Trẻ giảm khoảng 6% cân nặng trong vài ngày đầu tiên sau sanh, nhưng thường thì cân nặng của trẻ sẽ tăng trở lại vào 7-10 ngày tuổi sau đó. Quá trình tăng trưởng thường xảy ra nhanh chóng sau đó nhưng với tốc độ giảm dần. Trẻ thường tăng gấp đôi trọng lượng lúc sơ sinh khi 4-6 tháng tuổi, và gấp ba trọng lượng khi 1 tuổi. Tổng trọng lượng tăng thêm trong năm thứ 2 của trẻ xấp xỉ trọng lượng lúc sinh. Về chiều dài, trẻ tăng khoảng 50% chiều dài trong năm đầu tiên và đạt gấp đôi chiều dài vào lúc 4 tuổi. Tổng lượng mỡ cơ thể trẻ tăng nhanh trong 9 tháng đầu, sau đó tỉ lệ tăng mỡ cơ thể giảm dần trong suốt thời kỳ thơ ấu. Tổng lượng nước cơ thể trẻ giảm từ 70% lúc sinh xuống còn 60% lúc 1 tuổi. Lượng giảm này hầu hết là nước ngoại bào, từ 42% lúc sinh xuống còn 32%.
Dung tích dạ dày của trẻ tăng, thay đổi từ 10-20ml lúc sinh đến 200ml lúc năm 1 tuổi, giúp trẻ tiêu thụ được nhiều thức ăn hơn tại một thời điểm nhất định và giảm số tần suất ăn khi chúng lớn lên. Trong những tuần đầu tiên của cuộc sống, acid dạ dày giảm, sự giảm này tiếp tục được duy trì ở mức thấp hơn trong vài tháng đầu tiên so với trẻ lớn và người lớn. Tốc độ làm rỗng dạ dày cũng vì thế mà chậm đi, tùy thuộc vào lượng và thành phần bữa ăn.
Mặc dù sự tiết men pepsin của dạ dày vẫn còn ít trong 3 tháng đầu đời, đó không phải là yếu tố cản trở cho việc tiêu hóa protein. Hoạt động của Trypsin trong dịch tá tràng cũng thấp ở trẻ nhỏ so với trẻ lớn, và hoạt động của các men ruột cũng thế (các men có tác dụng hoạt hóa Trypsin). Tuy nhiên, hoạt động của các enzym nói trên cũng đủ để tiêu hóa chất đạm có trong sữa mà trẻ thường tiêu thụ.
Sự hấp thụ chất béo khác nhau ở trẻ sơ sinh. Chất béo trong sữa mẹ được hấp thu rất tốt, nhưng chất béo trong bơ thì được hấp thu kém (thải trừ qua phân từ 20%-48%). Các hợp chất béo trong các sữa công thức cho trẻ nhỏ ở dạng thương mại được hấp thu rất tốt. Sữa mẹ chứa hai men lipase, một men được tìm thấy trong thành phần chất béo của sữa, cần thiết cho sự hình thành chất béo của sữa mẹ trong tuyến vú nhưng tầm quan trọng dinh dưỡng của nó cho trẻ lại chưa được biết. Men lipase còn lại – “men lipase bị kích thích bởi muối mật” – thủy phân triglyceride thành acid béo và glycerol tự do. Men lipase ở lưỡi và dạ dày của trẻ thủy phân acid béo chuỗi ngắn và chuỗi trung bình trong dạ dày. Men lipase của dạ dày cũng thủy phân acid béo chuỗi dài và đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa ban đầu các triglyceride trong dạ dày.
Hầu hết các triglyceride chuỗi dài đều xuống ruột non mà không bị thủy phân, ở ruột non chúng bị cắt nhỏ bởi men lipase của tụy. “Men lipase bị kích thích bởi muối mật” trong sữa mẹ bị kích thích bởi muối mật của trẻ và thủy phân triglyceride trong ruột non. Muối mật là chất nhũ tương hóa hiệu quả khi kết hợp với monoglyceride, acid béo và lecithin, trợ giúp việc tiêu hóa chất béo trong ruột.
Sự hoạt động của các enzyme chịu trách nhiệm trong việc tiêu hoác các disaccharides như maltase, isomaltase và sucrase, đạt mức trưởng thành tốt nhất ở tuổi thai từ 28 đến 32 tuần. Hoạt động của men lactase (chịu trách nhiệm tiêu hóa các disaccharide trong sữa) tăng lên lúc gần sinh và đạt mức trưởng thành sau sinh. Hoạt động của men amylase của tụy (giúp tiêu hóa chất đường) vẫn ở mức thấp trong 6 tháng đầu sau sinh. Do đó, nếu trẻ tiêu thụ chất đường trong thời gian này thì thường sẽ có sự gia tăng hoạt động của men amylase trong nước bọt và sự tiêu hóa của ruột già để bù trừ.
Trẻ sơ sinh có hai quả thận chưa trưởng thành về mặt chức năng cũng như sinh lý học. Thận gia tăng kích thước và khả năng cô đặc nước tiểu trong những tuần đầu của cuộc đời. Thận tăng gấp đôi trọng lượng lúc 6 tháng tuổi và gấp ba trọng lượng lúc 1 năm tuổi. Ống thận cuối cùng ước tính được hình thành từ giữa tháng 8 thai kỳ đến cuối tháng đầu tiên sau sanh. Các búi mao mạch cầu thận được bao phủ bởi các lớp tế bào dày hơn trong thời kỳ sơ sinh hơn bất cứ thời gian nào sau đó. Điều này giải thích tại sao độ lọc cầu thận thấp hơn trong 9 tháng đầu đời so với độ lọc cầu thận trong thời kỳ trẻ lớn và niên thiếu. Trong giai đoạn sơ sinh, khả năng tạo thành acid, nước tiểu, và tập trung chất tan thường bị hạn chế. Khả năng cô đặc của thận lúc sinh chỉ giới hạn ở mức 700 mOsm/l ở một vài trẻ. Số trẻ còn lại có khả năng cô đặc nước tiểu như ở người lớn (1200 đến 1400 mOsm/l). Sau 6 tuần, đa số trẻ đều có khả năng cô đặc nước tiểu như người lớn. Chức năng thận ở trẻ mới sinh bình thường hiếm khi được quan tâm, tuy nhiên những khó khăn có thể phát sinh khi trẻ bị tiêu chảy hay được nuôi bằng loại sữa công thức quá cô đặc.
Chia sẻ kiến thức cho bạn bè:


 
 

Đăng nhận xét