14/11/14

Vitamin B9 (Folate)

Vitamin B9 (Folate)




Cấu trúc
Vitamin B9 thường được gọi là Folate, hoặc còn được gọi là Folacin hay Folic acid, thường tồn tại trong tự nhiên dưới dạng phức hợp có tên khoa học là Pteroyl-glutamic acid (PGA).

Vai trò
Vitamin B9 là thành phần của hai loại Coenzyme THF (tetrahydrofolate) và DHF (dihydrofolate). Các coenzyme này có vai trò trong việc tổng hợp DNA vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thành lập tế bào. THF là thành phần bắt buộc để chuyển đổi Vitamin B12 từ tiền chất sang thể hoạt động, vì vậy vai trò của Vitamin B9 luôn gắn liền với Vitamin B12. Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến vai trò của Vitamin B9 trong phòng chống bênh tim mạch và một số bệnh ung thư.

Nhu cầu
Nhu cầu Vitamin B9 trung bình vào khoảng 400µ DFE/ngày và không phải là vitamin có trong nhu cầu khuyến nghị của quốc gia.
Lưu ý là Folate trong thực phẩm thường có khả dụng sinh học (bioavailability) khá thấp, tỉ lệ hấp thu trung bình chỉ được 50%, trong khi Flolate trong các chế phẩm tổng hợp lại có tính khả dụng sinh học cao hơn, có khi đến 100% do dạng cung cấp qua các chế phẩm là Folate tự do trong khi Folate trong thực phẩm thường ở dạng phức hợp. Người ta đã tính ra được, Folate trong các chế phẩm hấp thu gấp 1.7 lần so với Folate trong thực phẩm. Vì vậy trong các khuyến cáo dinh dưỡng, đơn vị đo lượng Folate trong khẩu phần thường được dùng là DFE (dietary folate equivalent). Ví dụ, nhu cầu Folate là 400mg DFE, có nghĩa là có thể cung cấp 230mg Folate từ thực phẩm tự nhiên và 100mg Folate từ các chế phẩm bổ sung Folate.

Nguồn cung cấp
Vitamin B9 có nhiều trong các loại đậu hạt, nhất là đậu đen, đậu đỏ, trái bơ, các loại rau có màu xanh đậm như bông cải xanh, măng tây xanh, rau bó xôi...
Folate trong thực phẩm không ở dạng tự do, mà thường kết hợp với một chuỗi Polyglutamate thành phức hợp Polyglutamate-folate (polyglutamate form). Chuỗi Polyglutamate được tạo thành do sự kết hợp của các amino acid có tên là Glutamate. Khi phức hợp Polyglutamate-folate vào đến ruột non, các men tiêu chất đạm sẽ thủy phân để cắt chuỗi polyglutamate thành các amino acid glutamate tự do, còn lại một phân tử glutamate gắn trực tiếp với folate (monoglutamate form) được hấp thu vào tế bào niêm mạc ruột. Nói một cách khác, folate tồn tại trong thực phẩm dưới dạng phức hợp polyglutamate-folate nhưng được hấp thu dưới dạng kết hợp monoglutamate-folate. Trong tế bào niêm mạc ruột, monoglutamate-được gắn thêm một gốc methyl (CH3) trước khi đi vào hệ tuần hoàn rồi được đưa đến gan và các tế bào khác trong cơ thể và dự trữ ở đó dưới dạng phức hợp monoglutamate-folate-CH3 như một tiền chất không hoạt động của folate. Để hoạt hóa folate thành dạng hoạt động, cần có sự hiện diện của một coenzyme để cắt đứt gốc methyl khỏi phức hợp monoglutamate-folate-CH3. Coenzyme này hoạt động với sự hiện diện của vitamin B12. Ngược lại với folate, vitamin B12 ở dạng tiền chất thiếu một gốc methyl trong thành phần, vì vậy khi cắt đứt gốc methyl khỏi phức hợp monoglutamate-folate-CH3 để hoạt hóa folate, vitamin B12 đồng thời cũng sẽ được hoạt hóa do gắn kết với gốc methyl vừa được giải phóng từ phức hợp tiền chất của folate trong tế bào.

Vitamin B9-CH3 + Vitamin B12 --> Vitamin B9 + Vitamin B12-CH3

Folate trong cơ thể sau khi sử dụng sẽ được thải qua đường mật và được tái hấp thu ở ruột. vì vậy, các trường hợp tổn thương ở ruột sẽ làm hao hụt nhanh chóng lượng folate dự trữ trong cơ thể.

Đặc điểm liên quan đến bệnh lý
Thiếu Vitamin B9 ở phụ nữ mang thai đã được xác định là nguyên nhân gây các dị tật bẩm sinh về thần kinh như dị tật chẻ đôi đốt sống cho thai nhi. Ở trẻ em và người trưởng thành, thiếu folate là một trong những nguyên nhân gây thiếu máu hồng cầu to và hiện tượng suy giảm chức năng cơ học của ống tiêu hóa.

Những nghiên cứu mới của FDA cho thấy nếu phụ nữ mang thai có folate máu thấp và lượng amino acid homocystein cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch của bào thai. Một trong những vai trò quan trọng của folate là dị hóa homocystein, một sản phẩm chuyển hóa của chất đạm trong cơ thể. Thiếu folate, homocystein tồn tại với nồng độ cao trong máu có thể làm tăng nguy cơ tạo cục máu đông và tổn thương thành mạch máu, nên làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Ngoài ra, hiện cũng đang có những nghiên cứu về khả năng phòng ngừa ung thư của folate, như phòng ngừa ung thư tụy ở nam giới hút thuốc và phòng ngừa ung thư vú ở phụ nữ nghiện rượu.

Hiện vẫn chưa thấy ghi nhận trường hợp ngộ độc folate nào trong y văn.

Tài liệu tham khảo:
1) Dinh dưỡng học - Nhà xuất bản Y học 2011
Tài liệu tham khảo:
1) Dinh dưỡng học - Nhà xuất bản y học 2011 - See more at: http://www.clbdinhduong.com/2014/11/vitamin-b6-pyridoxine-pyridoxal.html#sthash.6jGrSBh0.dpuf

Chia sẻ kiến thức cho bạn bè:

Bs. Nguyễn Văn Anh

Theo dõi qua

         

Gửi thắc mắc